Các dự án phát triển

Từ năm 1989, MSIVN đã thực hiện thành công nhiều chương trình KHHGĐ và chăm sóc SKSS tại Việt Nam. Một số chương trình tiêu biểu bao gồm:

 

Các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương

 2005 Dự án “Photovoice - dự án phát triển có sự tham gia của cộng đồng nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của nhóm lao động nhập cư tại Hà Nội, Việt Nam”.

Nhà tài trợ: Ngân hàng thế giới

Thời gian thực hiện dự án: 12 tháng, từ tháng 4/2005 - 6/2006

Dự án nhằm góp phần làm tăng khả năng nhận thức và hiểu biết, từ đó giúp cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục cho lao động nhập cư ở Hà Nội. Photovoice là dự án đánh giá tình trạng đói nghèo có sự tham gia của cộng đồng và công cụ nghiên cứu là để chính bản thân lao động nhập cư trực tiếp tiếp cận với nhiếp ảnh và các hoạt động xã hội.

 

2005 Dự án “Cải thiện SKTD và SKSS cho các công nhân làm việc tại các nhà máy cung ứng sản phẩm cho tập đoàn adidas tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương”.

Nhà tài trợ: Tập đoàn adidas

Thời gian thực hiện dự án: 5 năm, từ tháng 1/2005 - 12/2009

Dự án nâng cao nhận thức của công nhân lao động nhập cư về vấn đề sức khỏe sinh sản bao gồm phòng chống HIV/AIDS và hỗ trợ những công nhân này dịch vụ sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục ngay tại các nhà máy cung ứng sản phẩm cho tập đoàn adidas thông qua hoạt động lưu động và tại phòng khám MSI Bình Dương. Dự án cũng chú trọng vào việc tăng cường năng lực cho đội ngũ nhân viên y tế của nhà máy thông qua các khóa đào tạo như tư vấn về sức khỏe sinh sản và các biện pháp tránh thai, để họ có thể tư vấn lại cho công nhân nhà máy của mình. Chương trình đào tạo đồng đẳng viên là một hợp phần quan trọng của dự án, theo đó, các bạn công nhân trẻ tuổi sẽ được đào tạo để trở thành những Giáo dục viên đồng đẳng, tuyên truyền về SKSS-KHHGĐ cho các bạn công nhân khác ngay tại nhà máy.

Mạng lưới chuyển tuyến cũng được thiết lập với sự tham gia của các nhà thuốc, các cơ sở y tế nhà nước và tư nhân nhằm tăng cường tính sẵn có của dịch vụ cũng như thông tin về SKSS và KHHGĐ cho công nhân nhà máy thuộc địa bàn thực hiện dự án.

 

2004 Dự án “Cung cấp dịch vụ SKSS và KHHGĐ lưu động cho chị em phụ nữ nghèo ở hai xã vùng đảo Thạnh An và Tam Thôn Hiệp, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh”.

Đơn vị tài trợ: Đại sứ quán Anh tại Việt Nam

Thời gian thực hiện dự án: 1 năm, từ tháng 1/2004 đến tháng 12/2004

Dự án cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình lưu động cần thiết cho các vùng nông thôn và khu vực hẻo lánh thuộc huyện đảo Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh.

 

2002 Dự án “Cung cấp dịch vụ KHHGĐ và SKSS lưu động cho chị em phụ nữ nghèo ở vùng nông thôn xa xôi của tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Thái Bình tại Việt Nam”.

Nhà tài trợ: Đại sứ quán Anh tại Việt Nam

Thời gian: 2 năm, từ 1/2002 - 12/2003

Dự án cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình lưu động cần thiết cho người dân các khu vực nông thôn hẻo lánh ở các tỉnh Thái Bình, Nghệ An và Hà Tĩnh.

 

Sức khỏe sinh sản vị thành niên

2004 Dự án cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các Tổ chức phi chính phủ địa phương để “thúc đẩy sự tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và cung cấp các dịch vụ thân thiện với thanh niên và vị thành niên”. Dự án là một phần của Sáng kiến sức khỏe sinh sản giành cho vị thành niên và thanh niên châu Á (RHIYA).

Nhà tài trợ: Cộng đồng Châu Âu (EC) thông qua Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA)

Thời gian thực hiện dự án: 33 tháng, từ tháng 2/2004 - 10/2006

Dự án là một phần của sáng kiến SKSS giành cho vị thành niên và thanh niên châu Á (RHIYA). Chương trình RHIYA tại Việt Nam nhằm cải thiện tình trạng SKSS vị thành niên và thanh niên ở độ tuổi từ 10 - 24 ở nông thôn và thành thị, trong đó đặc biệt chú trọng đến vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục và cung cấp dịch vụ SKSS - SKTD.

Dự án được xây dựng nhằm thực hiện mục đích của RHIYA tại khu vực, đó là cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản của giới trẻ, mang lại một xã hội lành mạnh, sẵn sàng đương đầu với những thử thách của sự phát triển. Trong Dự án này, MSIVN đóng vai trò hỗ trợ kỹ thuật cho các Tổ chức phi chính phủ địa phương: Hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, Trung tâm SKSS và KHHGĐ, Hội nữ hộ sinh Việt Nam để xây dựng tiêu chuẩn, thiết lập, quản lý và hỗ trợ 22 góc thân thiện cho thanh niên và vị thành niên, lồng ghép vào các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu tại 7 tỉnh thành trên cả nước.

 

 

1998 Dự án “Sức khỏe sinh sản Vị thành niên tại tỉnh Thừa Thiên Huế và Hà Nội trong khuôn khổ của sáng kiến sức khỏe sinh sản tại Châu Á của EC/ UNFPA”.

Cơ quan tài trợ: Ủy ban Châu Âu (EC) và Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA)

Thời gian thực hiện dự án: 4 năm, từ tháng 1/1998 - 12/2001

Dự án này là một phần của giai đoạn một Sáng kiến sức khỏe sinh sản vị thành niên Châu Á. Trong suốt quá trình thực hiện dự án, MSIVN đã phối hợp với Trung Ương đoàn Thanh niên và Hội Nữ sinh Việt Nam, thí điểm thành lập 2 góc thân thiện tại Hà Nội và Thừ a Thiên Huế. MSIVN đã đi tiên phong trong việc xây dựng mô hình góc thân thiện tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản kết hợp với giáo dục sức khỏe sinh sản cộng đồng tại Việt Nam.

 

Sức khỏe bà mẹ và trẻ em

2004 Dự án “Cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em thông qua phát triển năng lực của đội ngũ bà đỡ dân gian và Cán bộ Y tế Thôn bản tại tỉnh Lào Cai thuộc miền núi phía Bắc Việt Nam”.

Nhà tài trợ: Tổ chức hỗ trợ phát triển quốc tế Niu Dilân

Thời gian thực hiện dự án: 3 năm, từ tháng 11/2004 - 10/2007

Dự án nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc thai nghén và tư vấn sức khỏe sinh sản cho đồng bào vùng núi, chủ yếu là người dân tộc thuộc hai huyện miền núi Văn Bàn và Bảo Yên. Trong dự án này MSIVN đóng vai trò hỗ trợ kỹ thuật cho Sở Y tế tỉnh Lào Cai để đào tạo, hỗ trợ nâng cao kiến thức, kỹ năng về chăm sóc SKSS cho các bà đỡ dân gian và nhân viên y tế thôn bản, đặc biệt là sinh đẻ an toàn tại nhà cho phụ nữ các dân tộc thiểu số.

 

1993 Dự án “Chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em và kế hoạch hóa gia đình cho phụ nữ có thu nhập thấp và gia đình của họ bao gồm cả đào tạo tình nguyện viên y tế tại cộng đồng tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam”.

Cơ quan tài trợ: Ủy ban Châu Âu (EC)

Thời gian thực hiện dự án: 4 năm, từ tháng 7/1993 - 6/1997

 

HIV / AIDS

2007 Dự án “Phòng chống HIV cho Thanh niên”.

Nhà tài trợ: Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)

Đơn vị điều hành dự án: Tổng cục Dân số, Bộ Y tế Việt Nam

Thời gian thực hiện dự án: 4 năm, từ tháng 10/2007 - 9/2011

Hợp phần: Cung cấp dịch vụ VCT toàn diện, dịch vụ giảm thiểu rủi ro và chương trình GDVĐĐ cho thanh niên có nguy cơ bị nhiễm HIV/AIDS

Dự án nhằm mục tiêu thiết lập và quản lý mô hình dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện (HIV VCT) và các dịch vụ giảm hại cho thanh niên có nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS cao tại 5 tỉnh dự án - Hà Nội, Hà Tây, Quảng Ninh, Bắc Ninh và Phú Thọ.

Cụ thể: i) Đảm bảo mô hình dịch vụ HIV VCT và các dịch vụ giảm hại cho thanh niên một cách hiệu quả, đáp ứng đầy đủ, đúng nhu cầu và dễ tiếp cận tại các khu vực triển khai dự án; ii) Nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ HIV VCT tập trung vào nhóm thanh niên có nguy cơ cao; iii) Tác động đến hành vi có nguy cơ của các nhóm đối tượng mục tiêu; và iv) Tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng có kết quả xét nghiệm HIV dương tính tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ về tinh thần, xã hội và y tế.

 

2005 Dự án “Xây dựng mô hình lồng ghép dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện chất lượng cao vào các trung tâm SKSS Marie Stopes International hiện có tại Campuchia, Việt Nam và Myanma”. Dự án tập trung vào cộng đồng dân cư nghèo ở 3 quốc gia trên.

Nhà tài trợ: Ủy ban Châu Âu (EC)

Thời gian thực hiện dự án: 3 năm, từ tháng 7/2005 - 6/2008

Dự án đảm bảo rằng các mô hình lồng ghép dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện hoạt động một cách hiệu quả, dễ tiếp cận và đáp ứng nhu cầu của cộng đồng dân cư, đặc biệt là các nhóm dân cư nghèo, dễ bị tổn thương, có nguy cơ lây nhiễm cao tại Campuchia, Việt Nam và Myanmar. Dự án cũng chú trọng vào việc nâng cao nhận thức, tạo ra nhu cầu của các nhóm dân cư đích và tạo điều kiện thuận lợi cho họ tiếp cận dịch vụ tư vấn và xét nghiệm tự nguyện HIV, qua đó khuyến khích họ thay đổi hành vi và hỗ trợ những người có kết quả xét nghiệm HIV dương tính về tinh thần, xã hội cũng như y tế.

 

2003 Dự án “Thử nghiệm mô hình lồng ghép dịch vụ tư vấn và xét nghiệm sàng lọc HIV tự nguyện tại các trung tâm Marie Stopes Việt Nam kết hợp với các hoạt động tuyên truyền giáo dục phòng chống HIV/AIDS tại cộng đồng”.

Nhà tài trợ: Cơ quan Phát triển quốc tế Úc (AUSAID)

Thời gian thực hiện dự án: 3 năm, từ tháng 7/2003 - 6/2006

Dự án mở rộng thí điểm và giới thiệu mô hình lồng ghép dịch vụ xét nghiệm và tư vấn HIV tự nguyện tại các trung tâm chăm sóc SKSS của MSIVN, truyên truyền và cung cấp thông tin về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS và tình dục an toàn.

 

2003 Dự án “Hỗ trợ các trung tâm MSI tại Việt Nam tiếp tục cung cấp dịch vụ tư vấn và xét nghiệm sàng lọc HIV tự nguyện” sau giai đoạn thử nghiệm mô hình lồng ghép do AUSAID tài trợ.

Nhà tài trợ: State of Jersey

Thời gian thực hiện dự án: 11 tháng, từ tháng 4/2003 - 2/2004

Dự án thí điểm giới thiệu và lồng ghép xét nghiệm và tư vấn HIV tự nguyện vào các trung tâm chăm sóc SKSS hiện có của Marie Stopes tại Việt Nam.

 

Tăng cường năng lực

2010 Dự án “Tăng cường năng lực chăm sóc SKSS cho hệ thống y tế nhà nước và các cơ sở y tế ngoài công lập tại Việt Nam và Cam-pu-chia”.

Nhà tài trợ: Ủy ban Châu Âu

Thời gian thực hiện Dự án: 36 tháng (1/2010 - 12/2012)

Mục tiêu của Dự án là tăng cường năng lực các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập tại hai quốc gia trong khu vực là Việt Nam và Cam-pu-chia nhằm hỗ trợ cải thiện tình hình chăm sóc sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản cho người dân nghèo, góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu thiên nhiên kỷ số 5 - giảm tỷ lệ tử vong mẹ. Các hoạt động của Dự án được triển khai tại bốn tỉnh: Thừa Thiên Huế, Vĩnh Long của Việt Nam và Ratanakiri, Svay Rieng của Cam-pu-chia, trong đó chú trọng vào thử nghiệm cách tiếp cận thị trường tổng thể với sự hợp tác giữa khu vực y tế công và khu vực y tế tư nhân cũng như cơ chế chi trả các dịch vụ y tế dựa trên kết quả cuối cùng. Dự án can thiệp vào cả mảng “cung ứng dịch vụ” và mảng “nhu cầu”. Cụ thể là đào tạo nâng cao năng lực căn bản và thiết lập tiêu chuẩn dịch vụ cho mạng lưới các trạm y tế xã/phường và trạm y tế ngoài công lập theo mô hình Nhượng quyền xã hội; xây dựng và thực hiện chiến lược truyền thông “tạo ra nhu cầu” một cách hiệu quả đồng thời hỗ trợ và khuyến khích nhóm đối tượng đích sử dụng các dịch vụ KHHGĐ dài hạn/vĩnh viễn và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản thiết yếu tại các cơ sở y tế tham gia mạng lưới thông qua sử dụng “thẻ dịch vụ” (service vourcher).

2008 Dự án “Tăng cường năng lực chăm sóc sức khỏe sinh sản cho mạng lưới y tế xã/phường tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, Vĩnh Long, Việt Nam”.

Nhà tài trợ: ATLANTIC Philanthropies

Thời gian thực hiện dự án: 42 tháng (3.5 năm), từ tháng 12 năm 2008

Dự án nhằm cải thiện chất lượng sử dụng việc sử dụng dịch vụ SKSS ở tuyến xã/ phường thông qua thiết lập mạng lưới nhượng quyền xã hội và phát triển thương hiệu dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản “tình chị em”. Mục tiêu của các hoạt động nhượng quyền và phát triển thương hiệu là nâng cao nhận thức của cộng đồng về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản ở các trạm y tế xã/phường tại Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế và Vĩnh Long. Dự án sẽ áp dụng các kinh nghiệm và bài học từ mô hình Nhượng quyền Xã hội “tình chị em” đã được thực hiện thành công ở Đà Nẵng và Khánh Hòa.

 

2005 Dự án “Tăng cường năng lực chăm sóc sức khỏe sinh sản cho mạng lưới y tế xã/phường tại 2 tỉnh Khánh Hòa, Đà Nẵng”.

Nhà tài trợ: ATLANTIC Philanthropies

Thời gian thực hiện dự án: 6 năm, từ tháng 10 năm 2005

Mục tiêu tổng thể của dự án là cải thiện tình trạng SKSS của người dân tỉnh Khánh Hòa và thành phố Đà Nẵng nhằm đóng góp vào các mục tiêu về đói nghèo, y tế và HIV/AIDS trong Chiến lược Quốc gia về SKSS của chính phủ Việt Nam.

Mục tiêu cụ thể là nâng cao năng lực mạng lưới y tế nhà nước tại cấp xã/phường nhằm cung cấp những dịch vụ SKSS và KHHGĐ có chất lượng tại cộng đồng.

 

Sức khỏe sinh sản và các phòng khám sản phụ khoa - kế hoạch hóa gia đình Marie Stopes

2000 Dự án “Đáp ứng nhu cầu KHHGĐ và sức khỏe sinh sản cho phụ nữ thông qua thiết lập trung tâm KHHGĐ và đội lưu động tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam”.

Nhà tài trợ: Quỹ Cộng đồng Vương Quốc Anh (trước đây là Hội đồng từ thiện, quỹ Xổ số quốc gia của Anh)

Thời gian thực hiện dự án: 2000 - 2003

Dự án tập trung vào các nhóm dân cư dễ bị tổn thương như gái mại dâm, công nhân lao động nhập cư làm việc tại các nhà máy và khu công nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh.

 

1998 Dự án “Thành lập trung tâm kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản dựa vào cộng đồng tại thành phố Hồ Chí Minh ”.

Cơ quan tài trợ: Cơ quan Hỗ trợ phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID)

Thời gian thực hiện dự án: 4 năm, từ tháng 1/1998 - 12/2001

 

1996 Dự án“ Đáp ứng nhu cầu chưa được đáp ứng của phụ nữ và nam giới về dịch vụ kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản thông qua việc thành lập 3 trung tâm và các đội lưu động tại Hà Tĩnh, Nam Định và Thái Bình, Việt Nam”.

Cơ quan tài trợ: Uỷ ban Châu Âu (EC) Thời gian thực hiện dự án: 4 năm, từ tháng 7/1996 - 6/1999

 

1989 Dự án “Cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các trung tâm y tế huyện của tỉnh Hải Phòng và Quảng Ninh để cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản”.

Cơ quan tài trợ: Cơ quan hỗ trợ phát triển quốc tế Vương quốc Anh

Thời gian thực hiện dự án: 4 năm, từ năm 1989 - 1992

 

Nhượng quyền xã hội

2007 “Xã hội hóa dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản để cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình của người dân Việt Nam”.

Nhà tài trợ: Marie Stopes International Vương quốc Anh

Thời gian thực hiện dự án: 5 năm, từ năm 2007 - 2011

Dự án đã triển khai một sáng kiến lớn nhằm nâng cao sự nhận thức, khả năng cung cấp và sử dụng các biện pháp tránh thai và kế hoạch hóa gia đình cho người dân Việt nam. Các mục tiêu của dự án bao gồm: mở thêm 6 phòng khám Marie Stopes theo mô hình bền vững về mặt tài chính, mỗi phòng khám đều có đội lưu động; thành lập Tổng đài tư vấn cung cấp thông tin cho cộng đồng; đi tiên phong trong lĩnh vực nhượng quyền xã hội ở Việt Nam; xây dựng một hệ thống các cơ sở y tế tư nhân được nhượng quyền; xây dựng năng lực cung cấp dịch vụ SKSS và KHHGĐ cho các cơ sở tham gia mạng lưới nhượng quyền.