
Từ khi mở cửa tiếp nhận đầu tư nước ngoài vào năm 1990, Việt Nam đã đi lên từ đống tro tàn sau chiến tranh. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và bị chiến trang tàn phá, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh và đầy triển vọng trên thế giới. Nhân dân Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và đa dạng trong mọi lĩnh vực.
Chỉ
số nhân khẩu học và chỉ số kinh tế đã nói lên thành công của Việt Nam,
tuy nhiên quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng và mức độ di chuyển dân
cư ra thành thị tăng đang dần làm thay đổi cơ cấu và chức năng của xã
hội. Việt Nam giờ đây đang đứng trước cả cơ hội lẫn thách thức, bao gồm
cả trong lĩnh vực y tế.
Sự đóng góp của mỗi cá nhân đối với
những thay đổi của nền kinh tế phụ thuộc vào vị trí, trình độ, sức khỏe,
hoàn cảnh gia đình và cơ hội của bản thân họ. Nhiều phụ nữ Việt Nam
không có cả phương tiện cần thiết để tiếp cận các lợi ích do kinh tế
phát triển mang lại, đặc biệt là với phụ nữ các dân tộc thiểu số và nông
thôn thậm chí còn bị cách biệt với điều kiện bên ngoài. Sự thiếu hụt
tài nguyên và tình trạng nghèo đói kéo dài ở các vùng miền làm cho việc
chăm sóc sức khỏe hết sức hạn chế và kém chất lượng. Hậu quả là hiện
đang tồn tại sự khác biệt lớn giữa tình trạng sức khỏe của bà mẹ ở nông
thôn và thành thị, với 44% phụ nữ nông thôn vẫn sinh con tại nhà, trong
khi đó con số này chỉ có 7% ở khu vực thành thị.
Sự phát triển
của xã hội cũng đồng thời tạo ra những thách thức, đặc biệt trong lĩnh
vực chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS). Thanh niên vị thành niên được coi
là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong xã hội đã trở thành nhóm mục
tiêu của các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông (IEC) về SKSS ở
Việt Nam. Thanh niên Việt Nam ngày nay đã có sự thay đổi về tập quán và
văn hóa, như lập gia đình ở độ tuổi muộn hơn và gia tăng quan hệ tình
dục trước hôn nhân. Thiếu số liệu điều tra về các trường hợp viêm nhiễm
lây truyền qua đường tình dục (STIs) đã gây khó khăn cho việc lập báo
cáo chính xác, tuy nhiên trong một nghiên cứu được thực hiện vào năm
1997 đã ước tính rằng sự lây lan của các viêm nhiễm lây truyền qua đường
tình dục đã tăng lên 10 lần trong thập kỷ qua. Dường như tình trạng này
đã không được cải thiện, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay khi mà số
công nhân lao động nhập cư sống xa nhà, xa người thân đang làm tăng
nguy cơ lây nhiễm nhiều hơn so với trước đây.
Vấn đề HIV/AIDS tại
Việt Nam thực sự đáng lo ngại, số ca nhiễm HIV/AIDS theo báo cáo hiện
nay thấp hơn so với số thực tế. Thêm vào đó, rất nhiều phương tiện thông
tin đại chúng thường đề cập đến HIV/AIDS cùng với các tệ nạn xã hội như
nghiện hút hay mại dâm, đã là nguyên nhân gây ra kỳ thị của xã hội đối
với những người bị nhiễm bệnh. Một thực tế đáng chú ý là “nạn dịch” này
có nguy cơ sẽ lây sang rất nhiều người khác thông qua những khách hàng
là gái mại dâm, đặc biệt cho đối tượng là công nhân lao động xa nhà. Kết
quả là, chị em phụ nữ có quan hệ tình dục, có nguy cơ lây nhiễm HIV và
từ đó có khả năng lây truyền cho con nếu có mang.
Tuy nhiên,
thách thức lớn nhất mà Việt Nam đang phải đối mặt trong lĩnh vực SKSS là
vấn đề nạo phá thai. Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai thấp được
phản ánh bằng tỷ lệ nạo phá thai cao và tỷ lệ này đang tiếp tục gia tăng
ở Việt Nam. Với tỷ lệ nạo phá thai cao nhất ở Đông Nam Á và là một
trong những nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trung bình mỗi
phụ nữ Việt Nam nạo phá thai 2.5 lần trong đời (2002). Đáng ngại là
trong khi thông tin, giáo dục, truyền thông đã nỗ lực nâng cao nhận thức
của người dân nhưng rõ ràng họ chưa thực sự thay đổi được hành vi của
mình. Nhiều bạn gái trẻ thiếu kiến thức cơ bản về tình dục hoặc không
tin tưởng vào việc dùng bao cao su hay không yêu cầu bạn tình sử dụng
bao cao su. Hơn nữa, sự nhìn nhận một cách tiêu cực về nạo phá thai đã
gây nên tình trạng nhiều phụ nữ tiến hành nạo phá thai ở nơi bí mật và
bất hợp pháp. Ở Việt Nam mỗi tuần có 1 phụ nữ tử vong vì nạo phá thai
không an toàn.
Quỹ dân số liên hợp quốc (UNFPA) đã nêu ra
các vấn đề chủ yếu sau trong lĩnhvực sức khỏe sinh sản ở Việt
Nam:- Tỷ lệ tránh thai phổ biến cao
(75%), trong đó đa số chị em phụ nữ sử dụng vòng tránh thai (IUDs) và
các biện pháp tránh thai tự nhiên. Việc tiếp cận các biện pháp tránh
thai hiện đại còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện
đại là 52.6%
- Không phải tất cả người dân Việt Nam
đều dễ dàng tiếp cận các thông tin và dịch vụ về sức khỏe sinh sản. Vị
thành niên, thanh niên chưa lập gia đình, và những người dân sống ở vùng
sâu, vùng xa, đặc biệt đối mặt với những khó khăn trong việc tìm kiếm
và tiếp cận các thông tin và dịch vụ sức khỏe sinh sản có chất lượng.
- Tỷ lệ phụ nữ ở độ tuổi sinh sản mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường
sinh sản (20%) và nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục cao (25%).
- Những đóng góp của y tế công đã góp phần làm giảm tỷ lệ tử
vong mẹ và con, tuy nhiên tử vong mẹ vẫn còn ở mức cao
(29.9/1000), đặc biệt ở miền trung cao nguyên và các tỉnh miền núi phía
bắc.
Kêu gọi hành động của MSIVN:
“Đầu tư vào lĩnh vực Sức khỏe Sinh sản là ưu tiên phát triển
hàng đầu”