Thách thức lớn đối với ngành y tế Việt Nam là làm sao tăng cường khả năng tiếp cận tới các dịch vụ sức khỏe sinh sản có chất lượng cho người dân các địa phương khó khăn, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Chính vì vậy, hơn bao giờ hết, việc tìm ra và đưa vào áp dụng những mô hình, những tiếp cận tiến bộ để hỗ trợ nhóm dân cư này thực sự trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Hỗ trợ tài chính dựa vào đầu ra (OBA)

Hỗ trợ tài chính dựa vào đầu ra (OBA) là một mô hình tiến bộ giúp tăng cường khả năng tiếp cận tới các dịch vụ cơ bản (y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng) cho người dân nghèo ở các nước đang phát triển. OBA được áp dụng ở những nơi mà người nghèo không thể tiếp cận những dịch vụ cơ bản do không có khả năng chi trả toàn bộ chi phí liên quan tới nhu cầu cần được đáp ứng của mình.

Với kinh nghiệm quốc tế của mình trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản (SKSS) và kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ), Marie Stopes International tại Việt Nam (MSIVN) nhận thấy OBA có thể được triển khai và mang lại lợi ích to lớn cho cả 2 phía: (1) phía cung ứng dịch vụ và (2) phía có nhu cầu sử dụng dịch vụ.

Với bên cung ứng dịch vụ, OBA được tiến hành thông qua mô hình Nhượng quyền xã hội hoặc các hợp đồng ký kết. Qua đó, cán bộ y tế tại cơ sở cung cấp dịch vụ được tập huấn, nâng cao năng lực, và hỗ trợ về trang thiết bị, cơ sở vật chất cơ bản cũng như tăng cường hệ thống để tăng tính sẵn có và chất lượng dịch vụ cung cấp cho nguời dân.

Với bên có nhu cầu, mà cụ thể là chị em phụ nữ có nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhưng chưa được đáp ứng, và gia đình của họ, hỗ trợ tài chính của nhà tài trợ sẽ khuyến khích họ sử dụng dịch vụ chăm sóc SKSS thông qua hình thức thẻ bảo hiểm hoặc thẻ dịch vụ.

Hoàn toàn khác biệt với hình thức hỗ trợ truyền thống, trong tiếp cận OBA, hỗ trợ tài chính từ nhà tài trợ sẽ căn cứ vào số lượng dịch vụ y tế thực tế được cung cấp tức là theo “kết quả” chứ không dựa vào qui trình cung cấp dịch vụ hay “đầu vào”. Điều này mang lại nhiều lợi ích như: (1) Người cung cấp dịch vụ cần chú trọng vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, (2) Tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong cung cấp dịch vụ, và (3) Tạo cho khách hàng nhiều sự lựa chọn cũng như xóa bỏ những rào cản về “kinh tê” đối với khách hàng trong việc tiêp cận dịch vụ. Từ đó, ý thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của người dân cũng tăng lên.

Thẻ dịch vụ

Cơ chế thẻ dịch vụ là một cách thức hiệu quả nhằm hỗ trợ chi phí cho các nhóm dân cư có nhu cầu tiếp cận thông tin và dịch vụ chăm sóc SKSS nhưng chưa được đáp ứng. Thông qua mạng lưới cộng tác viên dân số, người dân thuộc các nhóm đối tượng đích sẽ được mua thẻ dịch vụ với giá đặc biệt ưu đãi để tới nhận dịch vụ y tế họ mong muốn tại bất cứ cơ sở nào thuộc mạng lưới các phòng khám đã được MSI hỗ trợ kỹ thuật, thẩm định và giám sát đảm bảo chất lượng. Sau đó, MSIVN, với kinh phí nhận được từ các nhà tài trợ, sẽ dựa trên số lượng dịch vụ thực tế mà các cơ sở y tế đã cung ứng cho khách hàng, để thanh toán lại các khoản chi phí này cho người cung cấp dịch vụ.

Chương trình Thẻ dịch vụ giúp tăng cường các hệ thống y tế và kết quả đầu ra cho các nhóm dân cư có nhu cầu nhưng chưa được đáp ứng thông qua việc:

  • Đảm bảo các nhóm đích được nhận các dịch vụ chăm sóc SKSS – KHHGĐ với mức chi phí ưu đãi đặc biệt. Tăng cường bình đẳng và tiếp cận dịch vụ
  • Nâng cao nhận thức và yêu cầu của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ họ nhận được. Điều này tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở y tế trong cùng một mạng lưới, khuyến khích họ cải thiện chất lượng dịch vụ để thu hút khách hàng.
  • Chi phí cung cấp dịch vụ được thanh toán lại cho cơ sở y tế dựa trên kết quả đầu ra thực tế, thay vì đầu vào, và vì thế nâng cao hiệu quả về mặt chi phí
  • Các cơ sở y tế được thẩm định và cấp chứng chỉ trước khi gia nhập mạng lưới cung ứng dịch vụ và sau đó liên tục được MSIVN giám sát đảm bảo chất lượng dưới nhiều hình thức. Điều này giúp duy trì chất lượng dịch vụ, đảm bảo quyền lợi của khách hàng.

 

Kinh nghiệm triển khai chương trình Thẻ dịch vụ của MSIVN

Năm 2010, MSIVN lần đầu tiên triển khai chương trình Thẻ dịch vụ hướng tới hỗ trợ nhóm công nhân nhập cư tại các khu công nghiệp, khuyến khích 269 chị em phụ nữ tiếp cận các dịch vụ được trợ giá.

Dựa trên thành công thu được, mạng lưới các phòng khám tư nhân được nhượng quyền xã hội BlueStar-Ngôi sao xanh tiếp tục xây dựng chương trình thẻ dịch vụ. Theo đó, trong năm 2010 và 2011, đã có 61.882 phụ nữ thu nhập thấp được tiếp nhận các gói dịch vụ về kế hoạch hóa gia đình. Dịch vụ khám phụ khoa và sàng lọc sớm ung thư cổ tử cung bằng phương pháp VIA (VIA) cũng được bổ sung vào các gói KHHGĐ này để gia tăng lợi ích cho khách hàng.

Mạng lưới các trạm y tế xã/phường được nhượng quyền xã hội mang tên tình chị em cũng phát 43.415 thẻ dịch vụ cho chị em phụ nữ ở các tỉnh dự án với các dịch vụ khám sức khỏe sinh sản tổng quát, các biện pháp tránh thai, và sàng lọc sớm ung thư cổ tử cung.



Tác động của chương trình Thẻ dịch vụ

Tổng số khách hàng hưởng lợi từ chương trình Thẻ dịch vụ

105.566

Các biện pháp tránh thai

64.927

Sàng lọc sớm ung thư cổ tử cung (VIA)

89.430

 

 Trong năm 2012, MSIVN sẽ tiếp tục nâng cao nhu cầu của khách hàng và chia sẻ gánh nặng quả tại cho các cơ sở y tế công thông qua việc phân phối thẻ dịch vụ với các dịch vụ chăm sóc SKSS và KHHGĐ tới các nhóm dân cư khó tiếp cận ở các vùng nông thôn nghèo khó, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.