Marie Stopes International (MSI) bắt đầu đến Việt Nam vào năm 1989 và là một trong những tổ chức phi chính phủ quốc tế đầu tiên hợp tác với Việt Nam  trong lĩnh vực chăm sóc SKSS và KHHGĐ.  Năm 1997, MSI được Ủy ban Công tác Phi chính phủ cấp giấy phép mở Văn phòng Đại diện thường trú tại Hà Nội. Từ đó đến nay MSI đã hợp tác với các đối tác trong nước để thực hiện các chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình chất lượng, sáng tạo và hiệu quả tại cộng đồng.


Trong hơn 20 năm qua, với sự hỗ trợ về tài chính của các nhà tài trợ và MSI tại Anh Quốc, MSI tại Việt Nam đã thực hiện thành công nhiều chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình cho các nhóm đối tượng thiệt thòi và có hoàn cảnh khó khăn như: phụ nữ nghèo ở vùng nông thôn, đồng bào dân tộc miền núi, dân nhập cư không đăng ký, gái mại dâm, thanh niên và vị thành niên ở nhiều tỉnh/thành trên lãnh thổ Việt Nam.




Chặng đường phát triển của MSI tại Việt Nam được chia ra ba giai đoạn chính:

Giai đoạn 1- từ 1989 đến 2002

Đây là giai đoạn MSI bắt đầu tới Việt Nam với mong muốn thử nghiệm một mô hình cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ chất lượng cao và phát triển bền vững về tài chính. Trong giai đoạn này, với sự hỗ trợ về tài chính của Cộng đồng Châu Âu, chính phủ Anh và Quỹ Cộng đồng của Anh Quốc, MSI đã hợp tác với đối tác địa phương để thiết lập được một mạng lưới 8 phòng khám sản phụ khoa mang tên Marie Stopes tại Nghệ An, Hà Tĩnh, Nam Định, Thái Bình, Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có hai phòng khám đặc biệt giành cho thanh niên và vị thành niên tại Hà Nội và thành phố Huế. Phòng khám mang tên MSI đầu tiên được mở cửa phục vụ cộng đồng vào năm 1994 tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, với hỗ trợ tài chính từ Cộng đồng Châu Âu.


Mô hình phòng khám sản phụ khoa/kế hoạch hóa gia đình mang tên MSI điển hình có hai thành tố quan trọng: một phòng khám tĩnh tại đặt ở khu đô thị để phục vụ dân cư có khả năng chi trả với mức phí phù hợp. Việc thu phí dịch vụ với mức giá phù hợp với khả năng chi trả của cộng đồng là yếu tố tiên quyết để duy trì chương trình cung cấp dịch vụ sau khi hết nguồn tài trợ. Vì thế các phòng khám MSI tại Việt Nam đều thu phí dịch vụ, ngay cả trong giai đọan tài trợ. Nguồn vốn quý báu của nhà tài trợ được sử dụng để thuê nhà, thiết lập cơ sở vật chất theo chuẩn của Bộ Y tế và MSI toàn cầu, mua sắm trang thiết bị y tế và đặc biệt là đào tạo tập huấn liên tục cho các bác sĩ và nữ hộ sinh trong kĩ thuật phòng chống nhiễm khuẩn và cung cấp dịch vụ y tế. Giám đốc các phòng khám được đào tạo về quản lý dịch vụ và tài chính, nhân sự. Cuối giai đọan tài trợ, mỗi phòng khám có một khoản tích lũy nhất định để tiếp tục họat động. Các phòng khám luôn nỗ lực duy trì chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng để mở rộng phạm vi phục vụ, từ đó tạo thêm nguồn thu tái đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo nâng cao năng lực và khuyến khích các thành viên.



Gắn liền với phòng khám tĩnh tại là một nhóm lưu động với bác sĩ, nữ hộ sinh, lái xe và các trang thiết bị y tế thiết yếu để cung ứng dịch vụ KHHGĐ tại các vùng khó khăn. Ở nhiều tỉnh thành có điều kiện đi lại khó khăn và nơi có nhiều dân nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, MSI phối hợp với ngành y tế địa phương để tổ chức đưa dịch vụ KHHGĐ và SKSS tới tận tuyến xã phục vụ cộng đồng. Các dịch vụ KHHGĐ lưu động là hoàn toàn miễn phí và chương trình này được liên tục thực hiện từ năm 1995 cho đến nay, với nguồn kinh phí hàng năm do MSI tại Anh Quốc hỗ trợ và một phần từ nguồn thu dịch vụ của các phòng khám MSI tại Việt Nam. Các phòng khám của MSI tại Việt Nam được thành lập để phục vụ các nhóm dân cư có nhu cầu cao chưa được đáp ứng như thanh niên, vị thành niên, dân nhập cư, các nhóm dân cư dễ thương tổn như phụ nữ làm việc trong các cơ sở giải trí, nơi mà mạng lưới y tế công chưa thể vươn tới, và y tế tư nhân không mấy quan tâm hoặc chưa có đủ kĩ năng và nguồn lực để tổ chức cung ứng dịch vụ một cách hiệu quả. Với mạng lưới 8 phòng khám mang tên MSI, từ năm 1994 đến năm 2002, chương trình MSI tại Việt Nam đã cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS và KHHGĐ cho hơn 230,000 phụ nữ và nam giới trong cộng đồng.


Giai đoạn 2 - từ 2002 đến 2010: Đa dạng hóa kênh cung cấp dịch vụ và tăng cường tác động ở tầm quốc gia thông qua việc lồng ghép và đầu tư vào hệ thống y tế sẵn có.

Từ năm 2002, MSIVN bắt đầu đa dạng hóa chiến lược họat động. Theo đó, ngoài việc tiếp tục duy trì mô hình phòng khám sản phụ khoa/KHHGĐ và các đội lưu động, MSI bắt đầu hợp tác với ngành y tế và các tổ chức xã hội dân sự của địa phương để thực hiện một số chương trình nâng cao năng lực chăm sóc SKSS/KHHGĐ trong vai trò là cơ quan hỗ trợ kĩ thuật. Thành công đầu tiên của MSI tại Việt Nam là chương trình nâng cao năng lực cho Sở Y tế và Trung tâm Y tế của hai huyện miền núi Văn Bàn và Bảo Yên, tỉnh Lào Cai trong việc tuyển chọn, đào tạo, giám sát hỗ trợ mạng lưới bà đỡ dân gian và cán bộ y tế thôn bản để cung cấp thông tin, kiến thức cho phụ nữ mang thai, thăm khám và phát hiện sớm các dấu hiệu thai nghén bất thường, thuyết phục vận động chị em phụ nữ mang thai đi khám thai định kì và sinh con tại trạm y tế, đồng thời hỗ trợ phụ nữ sinh con tại nhà. Trong khuôn khổ của dự án một cơ chế phối hợp từ tuyến thôn bản lên trạm xá xã, bệnh viện huyện đã được chính thức thiết lập và tăng cường. Sở Y tế Lào Cai là cơ quan điều hành, giám sát mô hình và MSI hỗ trợ kĩ thuật. Chương trình này do chính phủ Niu Di Lân hỗ trợ tài chính, thực hiện từ năm 2003 đến hết năm 2006.


Từ năm 2005 cho đến năm 2012, với sự hỗ trợ về tài chính của tổ chức ATLANTIC Philanthropies Việt Nam và Liên minh Châu Âu, MSI tại Việt Nam hợp tác với ngành y tế của 5 tỉnh Khánh Hòa, Đà Nẵng, Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế và Vĩnh Long để thử nghiêm mô hình Nhượng quyền xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản trong mạng lưới y tế tuyến cơ sở, đó là các trạm y tế xã phường. Mô hình Nhượng quyền xã hội “vay mượn” các nguyên tắc của nhượng quyền thương mại nhằm tối ưu hóa các lợi ích về mặt xã hội. Trong khuôn khổ của chương trình, 200 trạm y tế xã phường tại 5 tỉnh của Dự án đã được lựa chọn, nâng cấp và gắn thương hiệu nhượng quyền xã hội “tình chị em”, nhân viên của các trạm y tế được đào tạo về kĩ thuật dịch vụ KHHGĐ và chăm sóc SKSS, chất lượng dịch vụ và kĩ năng giao tiếp với KH, tiếp thị xã hội và khuếch trương thương hiệu. Một mạng lưới đại sứ thương hiệu được thiết lập, tập huấn và hỗ trợ để tiến hành các hoạt động khuyếch trương thương hiệu và các dịch vụ chăm sóc SKSS /KHHGĐ tại các cơ sở y tế được nhượng quyền tình chị em. Cho đến hết quý I năm 2012, mạng lưới NQXH y tế công lập đã mở rộng với 200 cơ sở tình chị em tại 5 tỉnh thành trên toàn quốc. Kết quả bước đầu từ mô hình NQXH tại khu vực y tế công cho thấy tỉ lệ người dân sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu tăng trung bình 20%, dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ tăng 15%. Đặc biệt, sau khi hết giai đọan tài trợ, Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa và Đà nẵng đã đầu tư mở rộng mạng lưới này với số cơ sở gấp đôi giai đọan trước.




Cũng từ năm 2007, với sự hỗ trợ tài chính từ một quỹ tư nhân của Hoa Kỳ, MSI tại Việt Nam cùng với đối tác chiến lược là Trung tâm SKSS Cộng đồng (VNCRH) đã tiến hành thử nghiệm mô hình Nhượng quyền xã hội các dịch vụ chăm sóc SKSS thiết yếu và phá thai an toàn bằng thuốc trong mạng lưới các cơ sở y tế tư nhân tại 7 tỉnh và thành phố bao gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Khánh Hòa, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và An Giang. Trong khuôn khổ của chương trình 300 cơ sở y tế tư nhân đa khoa và sản phụ khoa được tập hợp vào một mạng lưới NQXH mang tên BlueStar- Ngôi sao xanh, được tập huấn về tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ lâm sàng, tiêu chuẩn chăm sóc khách hàng và quản lý kinh doanh căn bản, được cấp chứng chỉ và cung cấp dịch vụ với sự hỗ trợ và giám sát kĩ thuật của MSI. MSI và VNCRH đồng thời tiến hành các họat động tiếp thị và khuếch trương thương hiệu, mua sắm tập trung các phương tiện tránh thai và hàng hóa với giá ưu đãi và chất lượng cho toàn mạng lưới. Chỉ trong năm 2011, tổng số khách hàng mà mạng lưới NQXH y tế tư nhân Bluestar- Ngôi sao xanh đã phục vụ tổng số 994.270 phụ nữ và nam giới, cung cấp 869.742 dich vụ chăm sóc SKSS và kế hoạch hóa gia đình với giá thấp hoặc miễn phí cho cộng đồng dân cư nghèo và thu nhập thấp tại các tỉnh thành dự án.




Cũng trong giai đọan 2 của chiến lược họat đông tại Việt Nam, MSI tiếp tục mở rộng thêm mạng lưới các phòng khám sản phụ khoa mang tên Marie Stopes tại Hà Nội, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Nha Trang, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Cần Thơ và sắp tới đây là thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Ngoài một số phòng khám đươc chuyển giao cho đối tác địa phương khi kết thúc dự án, hiện nay MSIVN cùng với VNCRH đang vận hành và hỗ trợ một mạng lưới 11 phòng khám sản phụ khoa trên toàn quốc, với một Tổng đài hỗ trợ khách hàng, 1900 55 88 82, hỗ trợ cung cấp thông tin trước và sau dịch vụ, đặt hẹn và thu thập phản hồi từ khách hàng. 


Song song với các chương trình hợp tác với mạng lưới  y tế trong và ngoài công lập như đã nói trên, từ năm 2005 MSI tại Việt nam đã liên tục hợp tác với các doanh nghiệp nổi tiếng trên thế giới như tập đoàn adidas, Abercrombie & Fitch, tập đoàn Pou Chen và các doanh nghiệp nước ngoài khác để thực hiện các chương trình giáo dục nâng cao nhận thức và cung ứng các biện pháp tránh thai hiện đại và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản thiết yếu cho công nhân trẻ làm việc trong các nhà máy và khu công nghịêp tại thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và Đồng Nai. Đến cuối năm 2011, chương trình này đã cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/KHHGĐ và phòng chống HIV/AIDS cho 345.204 công nhân, tập huấn nâng cao năng lực cho 162 cán bộ y tế của các nhà máy, đào tạo và hỗ trợ hoạt động chia sẻ thông tin cho hơn 500 giáo dục viên đồng đẳng của các nhà máy tham gia chương trình. Với những thành công nói trên, Tổng cục Dân số và KHHGĐ Bộ Y tế đã ký hợp đồng với MSI tại Việt Nam để thử nghiệm mô hình cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ cho một số nhà máy và xí nghiệp tại Khánh Hòa và Đà Nẵng, trong khuôn khổ của Đề án 52 cải thiện chất lượng dân số vùng biển do Thủ tướng chính phủ phê duyệt thực hiện năm 2010. 


Từ những năm 2003 đến năm 2011, MSIVN đã bắt đầu thử nghiệm mô hình lồng ghép dịch vụ tự nguyện tư vấn và xét nghiệm sàng lọc HIV vào các phòng khám mang tên MSIVN, cũng như hỗ trợ kĩ thuật để thiết lập và quản lý dịch vụ nói trên tại 10 cơ sở y tế công lập và bán công lập tại 5 tỉnh thành của Việt Nam.


Trong hơn 15 năm qua, MSI tại Việt Nam liên tục hợp tác với ngành dân số và y tế để thực hiện chương trình “thúc đẩy cung ứng và sử dụng các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình dài hạn và vĩnh viễn chất lượng” tại nhiều tỉnh thành. Chương trình này nhằm hỗ trợ nâng cao chất lượng dich vụ kế hoạch hóa gia đình, cải thiện hiệu quả của việc tổ chức cung ứng dịch vụ và nâng cao nhận thức cho cộng đồng để đảm bảo phụ nữ và nam giới có quyền lựa chọn các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình hiệu quả với đầy đủ thông tin. Trong vòng 3 năm gần đây, chương trình hợp tác này đã đem lại cho cộng đồng, nhất là người dân ở các tỉnh khó khăn gần 750.000 ca đặt vòng tránh thai, 8.400 ca triệt sản nam và nữ với trên 87% tỉ lệ khách hàng hài lòng với dịch vụ được cung cấp.


Giai đoạn thứ 3 - từ 2011 đến 2015: Chiến lược sức mạnh số 10

Ba định hướng chính của Chiến lược Sức mạnh số 10 của MSI tại Việt Nam bao gồm:

1. Mở rộng sự lựa chọn trong chăm sóc SKSS và mở rộng kênh cung ứng dịch vụ:

    • Tiếp tục hỗ trợ và đảm bảo chất lượng cho mạng lưới 500 cơ sở cung ứng dịch vụ, bao gồm 11 phòng khám sản phụ khoa Marie Stopes, 300 cơ sở NQXH y tế tư nhân Bluestar và gần 200 NQXH tình chị em. Nâng cao hiệu suất cung ứng dịch vụ của mỗi cơ sở cũng như duy trì chất lượng. 
    • Lồng ghép các dịch vụ mới như tầm soát sớm ung thư cổ tử cung, tư vấn và xét nghiệm sàng lọc HIV tự nguyện vào mạng lưới để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng với chi phí thấp. Tăng gấp 10 lần số khách hàng được phục vụ trong năm 2010.
    • Chú trọng đáp ứng nhu cầu của các nhóm dân cư khó tiếp cận và có nhu cầu cao về SKSS/KHHGĐ chưa được đáp ứng như phụ nữ nghèo vùng nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số, thanh niên và vị thành niên, thanh niên di cư làm việc trong các nhà máy và khu công nghiệp.
    • Thử nghiệm và tiếp thị xã hội một số biện pháp tránh thai dài hạn mới để mang lại sự lựa chọn thêm cho cộng đồng, nhất là phụ nữ trẻ chưa có gia đình và có nhu cầu tránh thai. 


2. Nâng cao năng lực tổ chức và năng lực của đối tác để đạt được mục tiêu chiến lược 5 năm:

    • MSI tại Việt Nam sẽ hướng tới sự hoàn thiện trong hệ thống vận hành, chất lượng chuyên môn và các tiêu chuẩn chung của  MSI  toàn cầu.
    • MSI tại Việt Nam sẽ đầu tư vào nguồn nhân lực để có được đội ngũ thành viên tốt nhất, có động lực mạnh mẽ và sự say mê làm việc.
    • MSI tại Việt Nam sẽ đảm bảo tiếp tục vận hành như một doanh nghiệp xã hội. Chúng tôi sẽ quản lý tốt hơn và giảm thiểu rủi ro, đồng thời tiếp tục chú trọng vào hiệu quả công việc, hiệu quả về chi phí và tập trung vào kết quả cuối cùng.


3. Tăng cường hợp tác và liên kết để huy động và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả vào việc cải thiện sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình tại Việt Nam.

    • Để đạt được các mục tiêu chiến lược Sức mạnh số 10 đầy tham vọng, MSI tại Việt Nam sẽ kết nối và hội nhập với hệ thống y tế tại Việt Nam. Chúng tôi sẽ tích cực tìm kiếm cơ hội kí kết hợp đồng thực hiện chương trình và hợp tác với nhà tài trợ.
    • MSI tại Việt Nam sẽ duy trì bền vững các dịch vụ cung ứng cho cộng đồng và tác động của chương trình thông qua đa dạng hóa các nguồn hỗ trợ từ nhà tài trợ, kết nối với hệ thống y tế; phục vụ người nghèo và các nhóm dân cư khó tiếp cận một cách hiệu quả với chi phí thấp; tận dụng tối đa nguồn thu từ dich vụ của các phòng khám MSI và vận hành tổ chức như là một doanh nghiệp xã hội.


Chiến lược sức mạnh số 10 của MSI tại Việt Nam sẽ mang lại những gì?



    • Hơn 5 triệu năm tránh thai một năm vào năm 2015, tăng gấp 2,3 lần so với năm 2010. Chúng tôi sẽ đảm bảo những năm tránh thai này sẽ thực sự có giá trị. Chúng tôi sẽ vươn tới phục vụ những người có nhu cầu cao chưa được đáp ứng đầy đủ. 
    • 2.5 triệu phụ nữ và nam giới sẽ được MSI phục vụ một năm vào năm 2015, trong đó có 1 triệu khách hàng sử dụng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình. 
    • MSI tại Việt Nam sẽ nỗ lực tạo ra tác động trên tầm quốc gia trong lĩnh vực kế hoạch hóa gia đình và giảm thiểu phá thai không an toàn 
    • Các dịch vụ mà MSI tại Việt Nam sẽ cung cấp cho cộng đồng vào năm 2015 dự kiến sẽ góp phần ngăn ngừa 1.532.620 ca mang thai ngoài ý muốn; ngăn ngừa được 859 ca tử vong mẹ.