Căn hộ 201 - 205, Nhà A1,
Khu Ngoại giao đoàn
Vạn Phúc,
298 Đường Kim Mã,
Quận Ba Đình,
Hà Nội, Việt Nam
Tel: + 84 4 3 722 5471/ 72
Fax: + 84 4 3 722 5503
Các dự án của MSIVN
Kể từ năm 1989 đến nay, MSIVN đã thực hiện một số các dự án có quy mô lớn nhỏ khác nhau bằng nguồn ngân sách của nhiều nhà tài trợ trên Thế giới.
Kết nối: Các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương | Sức khỏe sinh sản vị thành niên | Sức khỏe bà mẹ và trẻ em | HIV/AIDS | Tăng cường năng lực | Sức khỏe sinh sản và các trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản
Các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương Đầu trang
Năm 2010: Dự án "Cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho công nhân nhập cư tại các cơ sở y tế tư nhân được nhượng quyền xã hội và dịch vụ lưu động tại TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương"
Nhà tài trợ: Ngân hàng Thế giới
Thời gian thực hiện: 12 tháng, 1/2010 - 12/2010
Mục tiêu của Dự án là duy trì và củng cố một số kết quả chính đã đạt được của Sáng kiến "Cải thiện sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản cho công nhân làm việc tại các nhà máy cung ứng sản phẩm cho tập đoàn adidas tại TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương" do adidas tài trợ và MSIVN cùng đối tác địa phương - VNCRH - đồng thực hiện từ năm 2005 đến năm 2009. Cụ thể là nâng cao sự sẵn có và khả năng tiếp cận thông tin, dịch vụ kế hoạch hóa gia đình và phá thai an toàn cho công nhân nhập cư trẻ tại một số nhà máy, đồng thời thí điểm cơ chế chi trả dịch vụ y tế dựa trên kết quả sử dụng dịch vụ thực tế theo hình thức "thẻ dịch vụ" nhằm rút ra bài học kinh nghiệm trong việc tăng cường dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình cho nhóm thanh niên nhập cư có thu nhập thấp trên địa bàn Dự án.
Năm 2005: Dự án Photovoice - dự án phát triển có sự tham gia của cộng đồng nhắm cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của nhóm lao động nhập cư tại Hà Nội, Việt Nam”.
Xem triển lãm ảnh
Nhà tài trợ: Ngân hàng thế giới
Thời gian thực hiện dự án: 12 tháng, từ tháng 4/2005 – 6/2006
Dự án nhằm góp phần làm tăng khả năng nhận thức và hiểu biết, từ đó giúp cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục cho lao động nhập cư ở Hà Nội. Photovoice là dự án đánh giá tình trạng đói nghèo có sự tham gia của cộng đồng và công cụ nghiên cứu là để chính bản thân lao động nhập cư trực tiếp tiếp cận với nhiếp ảnh và các hoạt động xã hội.
Năm 2005: Dự án “Cải thiện sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục cho các công nhân làm việc tại các nhà máy cung ứng sản phẩm cho tập đoàn adidas tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương..
Nhà tài trợ: Văn phòng khu vực Châu Á - Tập đoàn adidas Salomon
Thời gian thực hiện dự án: 4 năm, từ tháng 1/2005 – 12/2008
Dự án nâng cao nhận thức của công nhân lao động nhập cư về vấn đề sức khỏe sinh sản bao gồm phòng chống HIV/AIDS và hỗ trợ những công nhân này dịch vụ sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục ngay tại các nhà máy cung ứng sản phẩm cho tập đoàn adidas thông qua hoạt động lưu động và tại trung tâm sức khỏe sinh sản MSI ở Bình Dương. Dự án cũng chú trọng vào việc tăng cường năng lực cho đối ngũ nhân viên y tế của nhà máy thông qua các khóa đào tạo như tư vấn về sức khỏe sinh sản và các biện pháp tránh thai, để họ có thể tư vấn lại cho công nhân nhà máy của mình. Chương trình đào tạo đồng đẳng viên là một hợp phần quan trọng của dự án, theo đó, các bạn công nhân trẻ tuổi sẽ được đào tạo để trở thành những Giáo dục viên đồng đẳng ngay tại nhà máy. Mạng lưới chuyển tuyến cũng sẽ được thiết lập với sự tham gia của các nhà thuốc, các cơ sở y tế Nhà nước và tư nhân nhằm tăng cường tính sẵn có của dịch vụ cũng như thông tin về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục cho công nhân nhà máy thuộc địa bàn thực hiện dự án.
Năm 2004: Dự án“Cung cấp dịch vụ SKSS và KHHGĐ lưu động cho chị em phụ nữ nghèo ở hai xã vùng đảo Thạnh An và Tam Thôn Hiệp, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh”
Đơn vị tài trợ: Đại sứ quán Anh tại Việt Nam
Thời gian thực hiện dự án: 1 năm, từ tháng 1/2004 đến tháng 12/2004
Dự án cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình lưu động cần thiết cho các vùng nông thôn và khu vực hẻo lánh thuộc huyện đảo Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 2003: Dự án “Đánh giá nhu cầu và thiết kế can thiệp cần thiết để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt về thông tin và dịch vụ sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục cho công nhân làm việc tại các nhà máy cung ứng sản phẩm cho tập đoàn adidas - Salomon tại thành phố Hồ Chí Minh.
Nhà tài trợ: Văn phòng khu vực Châu Á - Tập đoàn adidas Salomon
Thời gian thực hiện dự án: 6 tháng
Đây là giai đoạn khởi đầu của dự án kéo dài 4 năm với sự kết hợp giữa hoạt động phòng khám và hoạt động giáo dục y tế tập trung vào nhóm các công nhân lao động nhập cư làm việc tại các nhà máy cung ứng hàng cho tập đoàn adidas-Salomon ở tỉnh Bình Dương và
thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 2002: Dự án “Cung cấp dịch vụ KHHGĐ và SKSS lưu động cho chị em phụ nữ nghèo ở vùng nông thôn xa xôI của tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Thái Bình tại Việt Nam”
Nhà tài trợ: Đại sứ quán Anh tại Việt Nam
Thời gian: 2 năm, từ 1/2002 – 12/2003
Dự án cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình lưu động cần thiết cho người dân các khu vực nông thôn hẻo lánh ở các tỉnh Thái Bình, Nghệ An, và Hà Tĩnh
Sức khỏe sinh sản vị thành niên Đầu trang
Năm 2004: Dự án cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các Tổ chức phi chính phủ địa phương để “thúc đẩy sự tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và cung cấp các dịch vụ thân thiện với thanh niên và vị thành niên”. Dự án là một phần của Sáng kiến sức khỏe sinh sản giành cho vị thành niên và thanh niên châu Á (RHIYA).
Nhà tài trợ: Cộng đồng Châu Âu ( EC) thông qua Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA)
Thời gian thực hiện dự án: 33 tháng, từ tháng 2/2004 – 10/2006
Đối tác: Hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam - VINAFPA (Cơ quan quốc gia điều hành dự án), Trung tâm sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình (cơ quan thực hiện dự án), và Hội nữ hộ sinh Việt Nam (cơ quan đồng thực hiện), Quỹ dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (Cơ quan điều phối dự án)
Chương trình RHIYA tại Việt Nam nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản của vị thành niên thanh niên trong độ tuổi từ 10 – 24 ở trường học và ngoài xã hội bao gồm nông thôn và thành thị, trong đó đặc biệt chú trọng đến vấn đề bình đẳng giới khi giáo dục và cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục. Dự án được xây dựng nhằm thực hiện mục đích của RHIYA tại khu vực, đó là cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản của giới trẻ, mang lại một xã hội lành mạnh, sẵn sàng đương đầu với những thử thách của sự phát triển.
Năm 1998: Dự án Sức khỏe sinh sản Vị thành niên tại tỉnh Thừa Thiên Huế và Hà
Nội trong khuôn khổ của sáng kiến sức khỏe sinh sản tại Châu Á của EC/UNFPA.
Cơ quan tài trợ: Ủy ban Châu Âu (EC) và Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA)
Thời gian thực hiện dự án: 4 năm, từ tháng 1/1998 - 12/2001
Dự án này là một phần của giai đoạn một Sáng kiến sức khỏe sinh sản vị thành niên Châu Á. Trong suốt quá trình thực hiện dự án, MSIVN đã phối hợp với Trung Ương đoàn Thanh niên và Hội Nữ sinh Việt Nam, thí điểm thành lập 2 góc thân thiện tại Hà Nội và Huế. MSIVN đã đi tiên phong trong việc xây dựng mô hình góc thân thiện tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản kết hợp với giáo dục sức khỏe sinh sản cộng đồng tại Việt Nam.
Sức khỏe bà mẹ và trẻ em Đầu trang
Năm 2004: Dự án“Cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em thông qua phát triển năng lực của đội ngũ bà đỡ dân gian tại tỉnh Lào Cai thuộc miền núi phía Bắc Việt Nam”
Nhà tài trợ: Tổ chức hỗ trợ phát triển quốc tế Niu Dilân
Thời gian thực hiện dự án: 3 năm, từ tháng 11/2004 – 10/2007
Cùng hợp tác với Sở Y tế tỉnh Lào Cai, dự án nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc và tư vấn sức khỏe sinh sản cho các thôn bản ở hai huyện miền núi Văn Bàn và Bảo Yên, thông qua việc MSIVN cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật cho đối tác địa phương, các bà đỡ dân gian và nhân viên y tế thôn bản kiến thức, kỹ năng về chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, đặc biệt là sinh đẻ an toàn tại nhà cho phụ nữ các dân tộc thiểu số.
Năm 1993: Dự án “Chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em và kế hoạch hóa gia đình cho phụ nữ có thu nhập thấp và gia đình của họ bao gồm cả đào tạo tình nguyện viên y tế tại cộng đồng tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam”.
Cơ quan tài trợ: Ủy ban Châu Âu (EC)
Thời gian thực hiện dự án: 4 năm, từ tháng 7/1993 – 6/1997
HIV / AIDS Đầu trang
2007: Dự án “Phòng chống HIV cho Thanh niên”
Nhà tài trợ: Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)
Thời gian thực hiện dự án: 4 năm, từ tháng 10/2007 – 9/2011
Hợp phần: Cung cấp dịch vụ VCT toàn diện, dịch vụ giảm thiểu rủi ro và chương trình GDĐĐ cho thanh niên có nguy cơ bị nhiễm HIV/AIDS
Dự án nhằm mục tiêu thiết lập và quản lý mô hình dịch vụ Tư vấn và Xét nghiệm HIV tự nguyện (HIV VCT) và các dịch vụ giảm hại cho thanh niên có nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS cao tại 5 tỉnh dự án - Hà Nội , Hà Tây, Quảng Ninh, Bắc Ninh và Phú Thọ. Cụ thể: i) Đảm bảo mô hình dịch vụ HIV VCT và các dịch vụ giảm hại cho thanh niên một cách hiệu quả, đáp ứng đầy đủ, đúng nhu cầu và dễ tiếp cận tại các khu vực triển khai dự án; ii) Nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ HIV VCT tập trung vào nhóm thanh niên có nguy cơ cao; iii) Tác động đến hành vi có nguy cơ của các nhóm đối tượng mục tiêu, và iv) Tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ các khách hàng có kết quả xét nghiệm HIV dương tính về tinh thần, xã hội và y tế.
Năm 2005: Dự án “Xây dựng Mô hình Lồng ghép dịch vụ tư vấn và Xét nghiệm HIV tự nguyện chất lượng cao vào các trung tâm SKSS Marie Stopes International hiện có tại Campuchia, Việt Nam và Myanma”. Dự án tập trung vào cộng đồng dân cư nghèo ở 3 quốc gia trên.
Nhà tài trợ: Ủy ban Châu Âu (EC)
Thời gian thực hiện dự án: 3 năm, từ tháng 7/2005 – 6/2008
Dự án đảm bảo rằng các mô hình lồng ghép dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện hoạt động một cách hiệu quả, dễ tiếp cận và đáp ứng nhu cầu của cộng đồng dân cư, đặc biệt là các nhóm dân cư dễ bị tổn thương, có nguy cơ lây nhiễm cao tại Campuchia, Việt Nam và Myanmar. Dự án cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho dân cư tiếp cận dịch vụ tư vấn và xét nghiệm tự nguyện hiệu quả, từ đó làm thay đổi hành vi của khách hàng và hỗ trợ những người có kết quả xét nghiệm HIV dương tính về tinh thần, xã hội cũng như y tế.
Năm 2003: Dự án “Tiếp tục cung cấp dịch vụ tư vấn và xét nghiệm sàng lọc HIV tự nguyện tại các trung tâm Marie Stopes Việt Nam kết hợp với các hoạt động tuyên truyền giáo dục phòng chống HIV/AIDS tại cộng đồng tập trung vào các nhóm dễ bị thương tổn như sinh viên trẻ, gái mại dâm và công nhân nhập cư”
Nhà tài trợ: Cơ quan Phát triển quốc tế Úc
Thời gian thực hiện dự án: 3 năm, từ tháng 7/2003 – 6/2006
Dự án mở rộng thí điểm và giới thiệu mô hình lồng ghép dịch vụ xét nghiệm và tư vấn HIV tự nguyện tại các trung tâm chăm sóc SKSS của MSIVN, truyên truyền và cung cấp thông tin về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS và tình dục an toàn.
Năm 2003: Dự án “Lồng ghép dịch vụ tư vấn và xét nghiệm sàng lọc HIV tự nguỵên vào các trung tâm hiện có của Marie Stopes tại Việt Nam”
Nhà tài trợ: State of Jersey
Thời gian thực hiện dự án: 11 tháng, từ tháng 4/2003 -2/2004
Dự án thí điểm giới thiệu và lồng ghép xét nghiệm và tư vấn HIV tự nguyện vào các trung tâm chăm sóc SKSS hiện có của Marie Stopes tại Việt Nam
Tăng cường năng lực Đầu trang
Năm 2010: Dự án "Tăng cường năng lực các cơ sở cung cấp dịch vụ công lập và ngoài công lập trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản tại Việt Nam và Cam-pu-chia"
Nhà tài trợ: Ủy ban Châu Âu
Thời gian thực hiện Dự án: 36 tháng (1/2010 - 12/2012)
Mục tiêu của Dự án là tăng cường năng lực các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập tại hai quốc gia trong khu vực là Việt Nam và Cam-pu-chia nhằm hỗ trợ cải thiện tình hình chăm sóc sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản cho người dân nghèo, góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu thiên nhiên kỷ số 5 - giảm tỷ lệ tử vong mẹ.
Các hoạt động của Dự án được triển khai tại bốn tỉnh: Thừa Thiên Huế và Vĩnh Long của Việt Nam và Ratanakiri và Svay Rieng của Cam-pu-chia, trong đó chú trọng vào thử nghiệm cách tiếp cận thị trường tổng thể với sự hợp tác giữa khu vực y tế công và khu vực y tế tư nhân cũng như cơ chế chi trả các dịch vụ y tế dựa trên kết quả cuối cùng. Dự án can thiệp vào cả mảng "cung ứng dịch vụ" và mảng "nhu cầu". Cụ thể là đào tạo nâng cao năng lực căn bản và thiết lập tiêu chuẩn dịch vụ cho mạng lưới các trạm y tế xã/phường và trạm y tế ngoài công lập theo mô hình Nhượng quyền xã hội; xây dựng và thực hiện chiến lược truyền thông "tạo ra nhu cầu" một cách hiệu quả đồng thời hỗ trợ và khuyến khích nhóm đối tượng đích sử dụng các dịch vụ KHHGĐ dài hạn/vĩnh viễn và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản thiết yếu tại các cơ sở y tế tham gia mạng lưới thông qua sử dụng "thẻ dịch vụ" (service vourcher).
Năm 2008: Dự án “Tăng cường năng lực chăm sóc sức khỏe sinh sản cho mạng lưới y tế xã/phường tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, Vĩnh Long”.
Nhà tài trợ: ATLANTIC Philanthropies
Thời gian thực hiện dự án: 42 tháng (3.5 năm), từ tháng 12 năm 2008
Dự án nhằm cải thiện việc sử dụng dịch vụ sức khỏe sinh sản ở tuyến xã phường bằng cách thiết lập mạng lưới nhượng quyền xã hội và phát triển thương hiệu dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản. Mục tiêu của các hoạt động nhượng quyền và phát triển thương hiệu là nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản ở các trạm y tế xã phường tại Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, vầ Vĩnh Long. Dự án sẽ áp dụng các kinh nghiệm và bài học từ dự án Nhượng quyền Xã hội đã được thực hiện thành công ở Đà Nẵng và Khánh Hòa.
Năm 2005: Dự án “Tăng cường năng lực chăm sóc sức khỏe sinh sản cho mạng lưới y tế xã/phường tại 2 tỉnh Khánh Hòa, Đà Nẵng"
Nhà tài trợ: ATLANTIC Philanthropies
Thời gian thực hiện dự án: 6 năm, từ tháng 10 năm 2005
Mục tiêu tổng thể của dụ án là cải thiện tình trạng SKSS của người dân tỉnh Khánh Hoà và thành phố Đà Nẵng nhằm đóng góp vào các mục tiêu về đói nghèo, y tế và HIV/AIDS trong Chiến lược Quốc gia về SKSS của chính phủ Việt Nam. Mục tiêu cụ thể là nâng cao năng lực mạng lưới y tế nhà nước tại cấp xã/phường nhằm cung cấp những dịch vụ SKSS và KHHGĐ có chất lượng tại cộng đồng.
Năm 2004: Dự án “ Nâng cao năng lực của cán bộ cung cấp dịch vụ của hệ thống các trung tâm bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em/kế hoạch hóa gia đình tại thành phố Hồ Chí Minh trong việc cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS chất lượng cao”.
Nhà tài trợ: Chính phủ Hà Lan
Thời gian thực hiện dự án: 12 tháng, từ tháng 1/2004 – 12/2004
Dự án nâng cao năng lực cho đối tác là Trung tâm chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hóa gia đình tại thành phố Hồ Chí Minh trong việc cung cấp dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình an toàn và cải thiện chất lượng dịch vụ.
Xem phần Sức khỏe của mẹ và con và Sức khỏe sinh sản vị thành niên để biết thêm thông tin về các sự án tăng cường năng lực
Sức khỏe sinh sản và các trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản Đầu trang
Năm 2000: Dự án “Đáp ứng nhu cầu kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản cho phụ nữ và gia đình của họ thông qua cung cấp các dịch vụ chất lượng cao và phù hợp với khả năng chi trả tại các trung tâm nhỏ gọn và các hoạt động lưu động tại khu vực nội thành và ngoại vi của thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam”
Nhà tài trợ: Quỹ Cộng đồng Vương Quốc Anh (trước đây là Hội đồng từ thiện, quỹ Xổ số quốc gia của Anh)
Thời gian thực hiện dự án: 2000 - 2003
Dự án tập trung vào các nhóm dân cư dễ bị tổn thương như gái mại dâm, công nhân lao
động nhập cư làm việc tại các nhà máy và khu công nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1998: Dự án “Thành lập trung tâm kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản dựa vào cộng đồng tại thành phố Hồ Chí Minh ”
Cơ quan tài trợ: Cơ quan Hỗ trợ phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID)
Thời gian thực hiện dự án: 4 năm, từ tháng 1/1998 – 12/2001
Năm 1996: Dự án“ Đáp ứng nhu cầu chưa được đáp ứng của phụ nữ và nam giới về dịch vụ kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản thông qua việc thành lập 3 trung tâm và các đội lưu động tại Hà Tĩnh, Nam Định và Thái Bình, Việt Nam”.
Cơ quan tài trợ: Uỷ ban Châu Âu (EC)
Thời gian thực hiện dự án: 4 năm, từ tháng 7/1996 – 6/1999
Năm 1989: Dự án “Cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các trung tâm y tế huyện của tỉnh Hải Phòng và Quảng Ninh để cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản”.
Cơ quan tài trợ: Cơ quan hỗ trợ phát triển quốc tế Vương quốc Anh
Thời gian thực hiện dự án: 4 năm, từ năm 1989 – 1992
Kết nối: Nhượng quyền xã hội Nhượng quyền xã hội Đầu trang
Năm 2007: “Xã hội hóa dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản để cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình của người dân Việt Nam”
Nhà tài trợ: Marie Stopes International Vương quốc Anh
Thời gian thực hiện dự án: 5 năm, từ năm 2007 - 2011
Dự án đã triển khai một sáng kiến lớn nhằm nâng cao sự nhận thức, khả năng cung cấp và sử dụng các biện pháp tránh thai và kế hoạch hóa gia đình cho người dân Việt nam. Các mục tiêu của dự án bao
gồm: mở thêm 8 phòng khám Marie Stopes theo mô hình bền vững về mặt tài chính, mỗi phòng khám đều có đội lưu động; thành lập Tổng đài tư vấn cung cấp thông tin cho cộng đồng; đi tiên phong trong lĩnh vực nhượng quyền xã hội ở Việt Nam; xây dựng một hệ thống các cơ sở y tế tư nhân được nhượng quyền; xây dựng năng lực cung cấp dịch vụ SKSS và KHHGĐ cho các cơ sở tham gia mạng lưới nhượng quyền









